Khi Nào Thỏa Thuận Trọng Tài Được Xem Là Vô Hiệu?

Khi Nào Thỏa Thuận Trọng Tài Được Xem Là Vô Hiệu?

Hiện nay, các bên trong quan hệ hợp đồng thường lựa chọn giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài. Tuy nhiên, không ít trường hợp thỏa thuận trọng tài giữa các bên bị vô hiệu. Chính vì vậy, để tránh rơi vào trường hợp thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu, các bên cần lưu ý những trường hợp mà thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (“Luật TTTM”) như sau:

Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài (Điều 18.1 Luật TTTM)

Theo quy định về thẩm quyền của Trọng tài tại Điều 2 Luật TTTM, Trọng tài được giải quyết trong những trường hợp sau:

1/ Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại;

Theo đó, những hoạt động được xem là hoạt động thương mại nếu hoạt động đó nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác theo quy định tại Điều 3.1 Luật Thương mại năm 2005. Do đó những trường hợp tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài.

2/ Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại;

Trong trường hợp ít nhất một bên là thương nhân hoạt động thương mại hoặc tổ chức, cá nhân khác hoạt động thương mại thì các bên có thể thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết khi có phát sinh tranh chấp. Nếu các bên không có hoạt động thương mại thì Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết đối với những tranh chấp này.

3/Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.

Với những trường hợp khác, pháp luật có thể quy định tranh chấp giữa các bên được giải quyết bằng Trọng tài. Do đó, nếu các bên có phát sinh tranh chấp mà không nằm trong trường hợp mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài thì tranh chấp phát sinh của các bên không thuộc thẩm quyền của Trọng tài.

Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (Điều 18.2 Luật TTTM)

Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật được giải thích cụ thể tại Điều 3.2 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 20 tháng 03 năm 2014 hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại (“Nghị quyết số 01/2014”) là người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền. Như vậy, những người xác lập thỏa thuận trọng tài nhưng không có thẩm quyền hoặc vượt quá phạm vi ủy quyền sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

Tuy nhiên, trong trường hợp người không có thẩm quyền hoặc người được ủy quyền vượt quá phạm vi ủy quyền mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng vẫn có hiệu lực. Bất kể trường hợp này nằm trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài.

Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự (Điều 18.3 Luật TTTM)

Theo quy định tại Điều 20.2 Bộ luật Dân sự năm 2015 (“BLDS”), người thành niên là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp người bị mất năng lực hành vi dân sự theo Điều 22 BLDS hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo Điều 24 BLDS. Do đó, người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được xác lập thỏa thuận trọng tài. Ngoài ra, để có căn cứ chứng minh người đó không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để ký kết thỏa thuận trọng tài thì phải có tuyên bố rõ ràng của Trọng tài về người đó có bị mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định (Điều 18.4 Luật TTTM)

Theo quy định tại Điều 16.2 Luật TTTM, thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản và có thể thuộc một trong những trường hợp được xem là lập bằng văn bản như sau:

  1. Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
  2. Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
  3. Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
  4. Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
  5. Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

Do đó, những thỏa thuận trọng tài không được lập bằng văn bản sẽ không được xem là thỏa thuận trọng tài phù hợp với quy định của pháp luật và sẽ không có hiệu lực đối với các bên.

Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu (Điều 18.5 Luật TTTM)

Theo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận được quy định tại Điều 3.2 BLDS, các bên khi giao kết bất kỳ thỏa thuận nào cũng phải hoàn toàn tự nguyện, do ý chí của mỗi bên mà không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản hay có bất cứ hình thức nào buộc bên còn lại phải đồng ý thỏa thuận. Do đó, nếu một trong các bên hoặc cả hai bên đều bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó là vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài giữa các bên sẽ không có hiệu lực.

Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật (Điều 18.6 Luật TTTM)

Pháp luật cho phép các bên được lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp giữa các bên, tuy nhiên nếu thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật thì sẽ không có hiệu lực. Theo đó, điều cấm của luật là những quy định mà luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Vì thế, để tránh thỏa thuận trọng tài giữa các bên bị vô hiệu, các bên cần tránh thỏa thuận về những điều khoản trọng tài mà luật không cho phép thực hiện.

——————————

[LTT & LAWYERS:] Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.

Mọi vướng mắt pháp lý liên quan đến chủ đề này xin vui lòng liên hệ cho chúng tôi:

☎️ Công ty Luật TNHH LTT Và Các Cộng Sự
– E-mail: info@lttlawyers.com
– Phone: (+84) 906 122 830
– Website: www.lttlawyers.com
– Trụ sở chính: Tầng 19, Khu A, Tòa nhà Indochina Park Tower, Số 4 Nguyễn Đình Chiều, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Write a Reply or Comment